Tập đoàn Công nghiệp Cao su Việt Nam
Tên ý tưởng:
Tác giả:
Ngày
Mô tả
Lượt like
Lượt xem 632

Đây là Sáng kiến, giải pháp của NHÀ MÁY THỦY ĐIỆN SÔNG CÔN 2 - BỘ PHẬN CƠ ĐIỆN

1. Tình trạng giải pháp đã biết:

- Mô tả ngắn gọn giải pháp đã biết: Hệ thống làm mát cho các ổ hướng trên, ổ hướng dưới và ổ tuabin của các tổ máy H1, H2, H3 Nhà máy Thủy điện Sông Côn 2 được cấp từ hệ thống nước kỹ thuật của nhà máy. Hệ thống nước kỹ thuật này được bơm trực tiếp từ hạ lưu nhà máy thông qua 4 tổ bơm, trước khi đi vào 3 tổ máy phát nước làm mát được xử lý qua các bộ lọc nhằm loại bỏ những rác lớn, đất cát.

- Ưu khuyết điểm của giải pháp đã, đang được áp dụng tại cơ quan, đơn vị: Hệ thống nước làm mát thiết kế ban đầu đáp ứng đủ công suất cũng như tính dự phòng cho việc làm mát các tổ máy, tuy nhiên trong quá trình vận hành thực tế, hệ thống cấp nước làm mát chỉ phát huy tác dụng khi nước hạ lưu thật sạch, bộ lọc các tổ bơm chưa ngăn chặn hoàn toàn một số loại rác dẫn đến tắc nghẽn các bộ làm mát các ổ trục máy phát gây quá nhiệt bạc hướng tại các ổ trục, cần phải dừng máy để súc rửa khắc phục trong thời gian khá lâu, đối với ổ tuabin mất khoảng 8 giờ, ổ hướng trên mất 24 giờ, ổ hướng dưới mất 36 giờ để khắc phục.

2. Nội dung giải pháp đề nghị công nhận là sáng kiến:

- Mục đích của giải pháp: Ngăn chặn, loại bỏ các loại rác trước khi cấp nước cho các bộ làm mát máy phát nhằm khắc phục, hạn chế thời gian dừng máy do tình trạng tắc nghẽn bộ làm mát bên trong các ổ hướng trên, ổ hướng dưới và ổ tuabin của các tổ máy H1, H2, H3.

- Mô tả chi tiết nội dung/bản chất của giải pháp:

Mỗi tổ máy phát được cấp nước làm mát từ hệ thống phân phối chung, mỗi ổ trục được trích nước làm mát từ hệ thống chung của tổ máy thông qua van phân phối đầu vào. Tại van phân phối đầu vào mỗi ổ trục (mỗi tổ máy có 3 ổ trục là ổ hướng trên, ổ hướng dưới và ổ tuabin) được lắp đặt thêm 1 bộ lọc hình trụ bên trong có lưới lọc bằng inox F1 mm, diện tích lưới lọc được tính toán để trong trường hợp lưới lọc bị bám bẩn ½ thì cũng không ảnh hưởng đến lưu lượng cũng như áp lực nước chạy qua bộ lọc. Cấu tạo của bộ lọc có lắp đặt van xả đáy để xả định kỳ đưa rác bẩn, đất cát ra bên ngoài nhưng vẫn không ảnh hưởng đến quá trình cấp nước cho các ổ trục. Đầu vào và đầu ra bộ lọc có đặt đồng hồ áp lực để giám sát, khi lưới bị tắc nghẽn thì áp lực đầu ra nhỏ hơn áp lực đầu vào bộ lọc. Trong trường hợp xả đáy nhưng rác bên trong bộ lọc không ra hết, lưu lượng và áp lực nước qua không đủ thì lúc đó mới mở bộ lọc để súc rửa lưới lọc, thời gian súc rửa 1 bộ lọc khoảng 20 phút. Ngoài ra tại vị trí lắp đặt mỗi bộ lọc còn có 1 van bypass cấp nước trực tiếp cho các ổ trục không qua bộ lọc, khi vận hành bình thường van này luôn đóng, van này chỉ dùng trong trường hợp bộ lọc tắc nghẽn hoàn toàn mà không thể dừng máy để súc rửa bộ lọc (khuyến cáo không nên dùng vì rác có thể trực tiếp đi vào bộ làm mát các ổ trục, tốn nhiều thời gian để khắc phục ảnh hưởng đến hiệu quả phát điện).

- Những điểm khác biệt, tính mới của giải pháp so với giải pháp đã, đang được áp dụng: Như đã trình bày ở trên, do cấu tạo bộ lọc của các tổ bơm không thể ngăn chặn hoàn toàn rác trước khi cấp nước làm mát cho các tổ máy; việc lắp đặt thêm các bộ lọc tại các ổ trục xem như là giải pháp thứ cấp, rác bẩn, đất cát sẽ được ngăn chặn từ bên ngoài các ổ trục; việc thao tác để loại bỏ rác cũng hết sức đơn giản mà không ảnh hưởng hoặc ít ảnh hưởng đến quá trình phát điện thay vì trước đây phải dừng máy để khắc phục trong thời gian khá lâu, gây tổn thất về kinh tế trong thời gian dừng máy để khắc phục.

3. Khả năng áp dụng của giải pháp:

- Trình bày về khả năng áp dụng vào thực tế của giải pháp tạo ra, có thể áp dụng cho những đối tượng nào, cơ quan, tổ chức nào:

Đối với những nhà máy có thiết kế làm mát tương tự nhưng không thể thay thế thiết bị mới hoặc đổi mới công nghệ thì việc lắp thêm các bộ lọc tinh thứ cấp như trên cũng là một giải pháp tham khảo với chi phí rất thấp.

4. Hiệu quả, lợi ích thu được hoặc dự kiến có thể thu được do áp dụng giải pháp so với trước và sau khi áp dụng sáng kiến:

- Theo ý kiến của tổ chức, cá nhân đã áp dụng sáng kiến (nếu có):

- Theo ý kiến của tác giả sáng kiến:

+ Trước khi áp dụng sáng kiến: Nhà máy Thủy điện Sông Côn 2 bắt đầu vận hành tháng 9/2009. Theo thống kê xác suất dừng máy để khắc phục sự cố do tắc nghẽn bộ làm mát trong 3 tháng mùa mưa sản xuất chính: ổ tuabin nửa tháng súc rửa 1 lần (mất 8 tiếng), ổ hướng trên súc rửa ít nhất 1 lần (mất 24 tiếng), ổ hướng dười súc rửa ít nhất 1 lần (mất 36 tiếng). Như vậy thời gian dừng máy ảnh hưởng trực tiếp đến phát điện của 1 tổ máy trong 3 tháng sản xuất cao điểm là khoảng 108 giờ.

+ Hiệu quả sau khi áp dụng Sáng kiến:

Hiệu quả kinh tế: Các bộ lọc tinh cấp nước làm mát cho các ổ trục các tổ máy phát Nhà máy Thủy điện Sông Côn 2 được chế tạo và đưa vào sử dụng từ mùa mưa năm 2016. Từ khi đưa vào sử dụng đến nay hiệu quả rất rõ rệt, các loại rác đã được ngăn chặn từ bên ngoài không còn làm tắc nghẽn các ổ trục, thời gian dừng máy để khắc phục nhiệt độ ổ trục tăng cao do thiếu nước làm mát đã giảm hẳn, cụ thể: tháng 12 năm 2018 tổ máy H1 chỉ dừng phát điện khoảng 20 phút để súc rửa bộ lọc cấp nước ổ hướng tuabin do rác quá nhiều không thể xả qua van xả đáy. Như vậy trong vòng 3 năm tổng thời gian dừng phát điện để khắc phục sự cố do nước làm mát gây ra chỉ mất 20 phút so với tổng thời gian dừng cho 3 tổ trước đây là trên 300 giờ. Từ số giờ dừng máy để khắc phục tắc nghẽn bộ làm mát như trước đây có thể tính ra thiệt hại kinh tế (hoặc làm lợi) hàng tỷ đồng.